địa chỉ Đ/C: 1/11/20 Đường TTN 22, Phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP.HCM
hotline Hotline: 0935.065.119 - 0906.856.650

TÌNH HÌNH NỢ CÔNG CÀNG TĂNG

206 Lượt xem

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, nợ ở Việt Nam đã đạt đến mức báo động và có xu hướng tiếp tục tăng. Có thể nói đây là vấn đề được chú ý nhiều nhất trong thời gian gần đây. Bài viết phân tích thực trạng cho vấn đề nợ công ở Việt Nam. Mối quan hệ khách hàng – con nợ là mối quan hệ nan giải, khó mà xử lý được. Mà đòi nợ không đơn giản chút nào. Đặc biệt là cần phải giữ mối quan hệ khách hàng – con nợ. Hầu như công ty nào cũng có các con nợ

 

NỢ TĂNG TRƯỞNG MỘT CÁCH NHANH CHÓNG

 

tình hình nợ càng tăng trưởng
Tình hình nợ càng tăng trưởng.

 

Tốc độ tăng nợ công tăng của nợ công gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng của GDP. Năm 2017, vay đảo nợ lên đến 95.000 tỷ đồng. Con số này cho thấy gánh nặng nợ công đang tăng cao. Cứ 3 tháng 1 lần, Việt Nam trả nợ công gồm cả gốc và lãi với số tiền khoảng 25 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ khoảng 1 tỷ đô la Mỹ. Nếu không giải quyết nhanh chóng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến tài chính quốc gia, ổn định vĩ mô. Năm 2016, nợ công đến hạn của Việt Nam là 280.000 tỷ đồng, nhưng chỉ trả được 150.000 tỷ đồng và phải vay thêm 130.000 tỷ đồng, xấp xỉ 6 tỷ đô la Mỹ để đảo nợ

Bởi lẽ, nhiều doanh nghiệp được thành lập kê khai vốn điều lệ lớn, nhưng chủ yếu là vốn ảo. Các cổ đông có thể góp đủ vốn điều lệ, nhưng trong quá trình hoạt động có nhiều giao dịch chuyển tài sản không rõ ràng…, doanh nghiệp rất sợ nếu bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra lại quá trình hoạt động sẽ phát hiện ra nhiều sai phạm, người góp vốn hay người điều hành sẽ bị xử lý trước khi doanh nghiệp được phá sản. cụ thể, khi một doanh nghiệp bị xem là mất khả năng thanh toán,  người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ tịch hội đồng quản trị của công ty cổ phần; chủ tịch hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nếu những người này không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Bởi lẽ, nhiều doanh nghiệp được thành lập kê khai vốn điều lệ lớn, nhưng chủ yếu là vốn ảo. Các cổ đông có thể góp đủ vốn điều lệ, nhưng trong quá trình hoạt động có nhiều giao dịch chuyển tài sản không rõ ràng…, doanh nghiệp rất sợ nếu bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra lại quá trình hoạt động sẽ phát hiện ra nhiều sai phạm, người góp vốn hay người điều hành sẽ bị xử lý trước khi doanh nghiệp được phá sản.

Nghị quyết của hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ. Nghị quyết của hội nghị chủ nợ quyết định nội dung đề nghị: đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản; áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản.

Chính chủ nợ cũng không muốn doanh nghiệp nộp đơn phá sản. Theo Điều 81 và Điều 83 Luật Phá sản 2014, nghị quyết của hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành.

Nghị quyết của hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ. Nghị quyết của hội nghị chủ nợ quyết định nội dung đề nghị: đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản; áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản.

Đối với chủ nợ không có bảo đảm, hầu như tài sản còn lại (không bị thế chấp) sẽ được thanh lý để thu tiền phân chia theo thứ tự quy định. Tuy nhiên, trên thực tế, chủ nợ không có bảo đảm gần như không được phân chia hoặc nhận được với số tiền không đáng kể. Do đó, chủ nợ không có bảo đảm sẽ luôn lựa chọn hướng áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh (thời hạn không quá 3 năm).

Thậm chí, các chủ nợ có bảo đảm rất sợ doanh nghiệp nộp đơn yêu cầu phá sản vì sẽ phát lộ những việc sai phạm trong cho vay, định giá tài sản trước đây, tài sản bảo đảm bị tẩu tán không còn… Mặt khác, nghị quyết của hội nghị chủ nợ biến việc xử lý tài sản bảo đảm phụ thuộc vào quyền quyết định của các chủ nợ không có bảo đảm. Trên thực tế, các tổ chức tín dụng thường chọn cách xử lý trực tiếp tài sản bảo đảm của doanh nghiệp hơn là việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Bản chất của mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là việc lựa chọn phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc giải quyết tài sản của doanh nghiệp (tài sản và quyền tài sản) được phân chia cho các chủ nợ theo thứ tự quy định. Việc xử lý tài sản có thể mất một thời gian, nhưng vẫn giải quyết được theo hướng nhận tài sản hoặc đưa ra đấu giá.

Khi doanh nghiệp do mình đầu tư bị thất bại, rơi vào tình trạng nợ nần, tâm lý nhà đầu tư thường sẽ rơi vào tình trạng thất vọng, hoang mang. Mọi quyết định vào thời điểm không sáng suốt này có thể làm tình hình nghiêm trọng hơn.

Hiện thị trường này đang bị chao đảo, đóng băng và rối loạn bởi các chính sách thắt chặt tín dụng. Nhiều “đại gia” đang bị dồn vào chân tường, khó khăn về vốn, đứng trước nguy cơ phá sản và vỡ nợ. Hiện tượng tín dụng không chính thức đã tồn tại khá lâu nhưng đến bây giờ mới có điều kiện bùng phát.

Về mặt pháp lý, đây là một quá trình giao dịch tự nguyện của hai bên, các chủ nợ và con nợ, không bị ép buộc bởi bên nào và cũng không nhờ đến sự bảo trợ của pháp luật. Đây chỉ là các giao dịch dân sự thông thường nên tôi muốn gọi đó là các giao dịch không chính thức, tín dụng không chính thức, giống như nhiều loại hình tín dụng không chính thức khác trong nhân dân ở quy mô nhỏ như việc chơi hụi, chơi họ, cùng góp vốn đầu tư...

Một nhóm người khác, có tiền nhưng ít kiến thức, không biết đầu tư kinh doanh vào đâu, không được tư vấn, không lường trước được rủi ro, lại bị tâm lý hám lợi thôi thúc cũng tự nguyện trở thành con mồi của các con nợ.

 

NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ CÔNG CÀNG TĂNG

 

Nguyên nhân gây ra nợ thì rất nhiều nguyên nhân chủ quan hay khách quan nhưng dưới đây là 2 nguyên nhân chính gây ra nợ công ở Việt Nam:

 

     Thứ nhất: Đầu tư ồ ạt. Đường xá, cầu đường được xây dựng và mở rộng . Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ nên Nhà nước còn phải gánh thêm khoản nợ Bên cạnh đó là các dự án phát sinh tăng vốn.

 

     Thứ hai: Có hiện tượng tham nhũng, thất thoát. Bên cạnh đó, chưa có sự minh bạch trong sử dụng vốn vay

Bài viết khác
Về đầu trang
Gọi điện SMS Chỉ đường